Ballade no 1 in g nghĩa là gì năm 2024

Our ballade, of course, uses exclusively black notation.

As in any ballade, the place to begin to examine the text is the refrain line.

Yet the ballade's behaviour requires consideration of one additional role for colour, and this is colour in respect to proportion and mensuration.

Looking at the manuscript context, the ballade keeps company with fairly mainstream material.

These ballade clusters are in turn divided by sets of rondeaux, in three groups of twelve.

In between each section occur groups of ballades: the first has forty-four, the second forty, and the third another forty-four.

Each set of rondeaux is grafted by rhyme onto the ballades.

In the ballade, it would appear that accidentals hold (inconsistencies aside) either until cancelled or until the end of the staff or musical unit.

The ballade, in fact, makes prominent aural use of the single most characteristic interval of the chromatic tetrachord, the trihemitonium.

Both the extreme accidentals and their method of cancellation help to provide a context for our ballade.

This is exactly the sequence of proportional durations of the breve in our ballade.

The poem that is our ballade's lyric dramatically expands the analytical field for us, alerting us to additional dimensions of meaning and allusion.

Looked at as a group, the examples involve a variety of genres: motets, dits, ballades and rondeaux.

In any event, our refrain could put into the mouth of the singer the sentiment that the poem and ballade are vexing, discomforting or challenging.

We are very nearly at the pitch collection of the ballade.

Các quan điểm của các ví dụ không thể hiện quan điểm của các biên tập viên Cambridge Dictionary hoặc của Cambridge University Press hay của các nhà cấp phép.

Ballade No. 1 in G minor, Op. 23, dates to sketches Chopin made in 1831 during his eight-month stay in Vienna. ↔ Ballade số 1 cung Sol thứ, Op. 23, được Chopin viết vào năm 1831 trong suốt tám tháng ở Vienna của ông.

ballade noun ngữ pháp

(music) Any of various genres of single-movement musical pieces having lyrical and narrative elements [..]

  • thơ balat

  • ### Ballade a form of medieval and Renaissance French poetry
  • Ballad · ballad · bài ca balat · dân ca · khúc balat · khúc ballad · 民歌
  • người soạn khúc balat · người đặt vè

Ballade No. 1 in G minor, Op. 23, dates to sketches Chopin made in 1831 during his eight-month stay in Vienna.

Ballade số 1 cung Sol thứ, Op. 23, được Chopin viết vào năm 1831 trong suốt tám tháng ở Vienna của ông.

David Cavanagh said that most of OK Computer's purported mainstream influence more likely stemmed from the ballads on The Bends.

David Cavanagh nhận xét rằng những ảnh hưởng chính yếu của OK Computer đã được bắt nguồn từ những giai điệu ballad trong The Bends.

In the UK, the Beatles' singles remained monaural until the following release, "The Ballad of John and Yoko".

Ở Anh, tất cả các đĩa đơn của The Beatles vẫn được phát ở định dạng mono cho tới tận đĩa đơn tiếp theo của họ, "The Ballad of John and Yoko".

The shape-shifting nature of selkie's within Shetland tradition is detailed in the Scottish ballad The Great Silkie of Sule Skerry 'I am a man upo' da land; I am a selkie i' da sea.

Các tấm da hải cẩu không giống nhau, mỗi tấm da là độc nhất Hình tượng selkie trong văn hóa Shetland được mô tả chi tiết trong bản ballad 'I am a man upo' da land; I am a selkie i' da sea.

Houston said that the powerful piano ballad sums up the album and was all she wanted to say at that stage of her life.

Houston cho biết bản ballad trên piano đầy sức mạnh này tổng quát hóa cho cả album, và là tất cả những gì cô muốn nói vào giai đoạn này của cuộc đời mình.

"Photograph", also written with McDaid whilst touring with his band Snow Patrol in May 2012, is a "timeless ballad".

"Photograph", cũng được viết cùng McDaid khi anh đang lưu diễn cùng Snow Patrol vào tháng 5 năm 2012, là một bản "ballad bất diệt".

27 of the ‘A’ texts in English and Scottish Popular Ballads (1882–98) by Francis James Child were supplied by Anna.

Tám bộ sưu tập The English and Scottish Popular Ballads (1882–92) của Francis James Child (1825–96) đã gây ảnh hưởng lớn.

"Stranger in Moscow" is an R&B ballad, written by Jackson in 1993 during his Dangerous World Tour stop in Moscow.

"Stranger in Moscow" là một bản R&B ballad, được viết bởi Jackson vào năm 1993, trong thời gian thực hiện chuyến lưu diễn Dangerous World Tour ở Moscow.

Described as " Angels", the song is a "ballad with big drums, set in New York."

Được miêu tả là "Angels của Ed Sheeran", bài hát là một bản "ballad với những tiếng trống lớn, với bối cảnh đặt tại New York."

The second expansion, titled Grand Theft Auto: The Ballad of Gay Tony, was released on 29 October 2009.

Phiên bản thứ hai mà người chơi có thể tải về có tên là Grand Theft Auto: The Ballad of Gay Tony và đã được phát hành ngày 29 tháng 10 năm 2009.

In a review of Unapologetic, Alex Macpherson of Fact wrote that "Loveeeeeee Song" "is a boilerplate Future space ballad with an unforgivably stupid title."

Khi viết về Unapologetic, Alex Macpherson của Fact đã viết rằng "Loveeeeeee Song" chỉ là một bản ballad mang tính thủ tục của Future với một tiêu đề ngu ngốc không thể tha thứ".

Among Scott's early works was the influential collection of ballads Minstrelsy of the Scottish Border (1802–03).

Trong số các ấn phẩm đầu tiên của Scott là bộ sưu tập The Minstrelsy of the Scottish Border (1802–03).

The first single from the album is a cover of the ballad "Home", originally by Michael Bublé, and was released on 29 October 2007 The song debuted at

3 on the official UK singles chart.

Đĩa đơn đầu tiên của album là một cover (hát lại) của bản ballad "Home", nguyên gốc bởi Michael Bublé, phát hành 29 tháng 10 năm 2007 Bài hát leo thẳng đến vị trí

3 trong lần đầu xuất hiện trên Bảng xếp hạng Đĩa đơn Chính thức của Anh..

What about a ballad for my beautiful man?

Để tôi cho anh chàng đẹp trai nghe một bản ballad nghe?

Kitty Empire of The Observer called "Photograph" a "swelling ballad", and suggested that Sheeran's writing was "particularly calculated".

Katy Empire của The Guardian gọi "Photograph" là một bản "ballad có sức ảnh hưởng", còn cách sáng tác lời của Sheeran như thể "được tính toán cụ thể".

A mid-tempo pop, pop rock and soul-influenced R&B ballad, "Start Over" finds the female protagonist affirming her individuality and expressing her love for a man with whom she attempts to start a relationship all over again.

Mang một chút âm hưởng pop, pop rock và soul - ảnh hưởng bởi R&B ballad, "Start Over" mang nội dung nhân vật nữ chính khẳng định cá tính của mình và bày tỏ tình yêu của mình cho một người đàn ông mà cô cố gắng để bắt đầu một mối quan hệ một lần nữa.

Jody Rosen from Rolling Stone gave the song four out of five stars, calling it Swift's "prettiest ballad."

Jody Rosen của tạp chí Rolling Stone giành tặng ca khúc bốn trên năm sao, gọi bài hát là "bản ballad đẹp nhất" của Swift.

"Won't Go Home Without You" is a ballad and the third single released from Maroon 5's second studio album, It Won't Be Soon Before Long (2007).

"Won't Go Home Without You" là đĩa đơn thứ ba trích từ album It Won't Be Soon Before Long (2007) của Maroon 5.

Soothing ballads like "You are the one" and "So I" intend to create a positive environment in one's love relationship.

Những ca khúc ballad như "You are the one" và "So I" thì nói đến những điều tích cực trong mối quan hệ yêu đương của một người.

Critical reception of Rainbow was generally enthusiastic, with the Sunday Herald saying that the album "sees her impressively tottering between soul ballads and collaborations with R&B heavyweights like Snoop Doggy Dogg and Usher It's a polished collection of pop-soul."

Các đánh giá đến Rainbow đa phần là tích cực, với lời khẳng định từ Sunday Herald cho rằng album là "sự chập chững ấn tượng giữa các bản tình ca đậm chất soul và sự cộng tác với những nhân vật nặng ký trong thể loại R&B/hip-hop như Snoop Dogg và Usher Đây là một tuyển tập tao nhã của thể loại pop-soul."

Jacqueline Rupp of Common Sense Media wrote, "Carrie Underwood's power ballad, 'Ever Ever After' will have widespread appeal for all ages".

Jacqueline Rupp của tờ Common Sense Media viết, "Bản power ballad của Carrie Underwood, 'Ever Ever After' sẽ được đón nhận rộng rãi và phù hợp với mọi lứa tuổi.".

The CD included songs such as "Here in These Fields" and the religious ballad, "All I Believe".

Đĩa CD này bao gồm những ca khúc như "Here in These Fields" (Trên những cánh đồng này) và bản ballad tôn giáo "All I Believe" (Tất cả những gì tôi tin).

"Let Me Love You" is a moderate R&B ballad in G minor, centered around the progression C minor / G minor / F major.

"Oh Mother" là một bản pop mang âm hưởng ballad viết ở nốt C♯ minor trên nền nhạc R&B với giai điệu chầm chậm vừa phải.

In the Rolling Stone Magazine review of the album, critic Kelefa Sanneh wrote: "One of the best is 'Fix You', an unabashedly sentimental song where Martin delivers words of encouragement in a gentle falsetto Proving once more that no band can deliver a stately rock ballad like this one."

Trong đánh giá của tạp chí Rolling Stone, nhà phê bình Kelefa Sanneh viết: "Một trong những bài hát tuyệt nhất là 'Fix You', một ca khúc ít bị nao núng tình cảm nơi Martin đưa đến những lời động viên trong chất giọng thanh cao mà nhẹ nhàng của anh Điều đó chứng minh một lần nữa rằng không một ban nhạc nào có thể đưa đến một chất rock ballad trang nghiêm đến như vậy".

From this album the song "Ese Hombre" (That Man), by Chilean songwriter María Angélica Ramírez, won ASCAP's "Best Pop Ballad" of the year, as well as first place on the Billboard charts.

Từ album này, bài hát "Ese Hombre" (Người đàn ông đó), của nhạc sĩ người Chile María Angélica Ramírez, đã giành giải "Ballad Pop hay nhất" của ASCAP, cũng như vị trí đầu tiên trên bảng xếp hạng Billboard.