Nghiên cứu về vấn de việc làm của sinh viên

Tài liệu "Nghiên cứu về thực trạng việc làm của những sinh viên khoa Giáo Dục sau khi ra trường" có mã là 238786, file định dạng doc, có 26 trang, dung lượng file 136 kb. Tài liệu thuộc chuyên mục: Luận văn đồ án > Khoa học xã hội > Xã hội học. Tài liệu thuộc loại Bạc

Nội dung Nghiên cứu về thực trạng việc làm của những sinh viên khoa Giáo Dục sau khi ra trường

Trước khi tải bạn có thể xem qua phần preview bên dưới. Hệ thống tự động lấy ngẫu nhiên 20% các trang trong tài liệu Nghiên cứu về thực trạng việc làm của những sinh viên khoa Giáo Dục sau khi ra trường để tạo dạng ảnh để hiện thị ra. Ảnh hiển thị dưới dạng slide nên bạn thực hiện chuyển slide để xem hết các trang.
Bạn lưu ý là do hiển thị ngẫu nhiên nên có thể thấy ngắt quãng một số trang, nhưng trong nội dung file tải về sẽ đầy đủ 26 trang. Chúng tôi khuyễn khích bạn nên xem kỹ phần preview này để chắc chắn đây là tài liệu bạn cần tải.

Xem preview Nghiên cứu về thực trạng việc làm của những sinh viên khoa Giáo Dục sau khi ra trường

Nếu bạn đang xem trên máy tính thì bạn có thể click vào phần ảnh nhỏ phía bên dưới hoặc cũng có thể click vào mũi bên sang trái, sang phải để chuyển nội dung slide.Nếu sử dụng điện thoại thì bạn chỉ việc dùng ngón tay gạt sang trái, sang phải để chuyển nội dung slide.

Nghiên cứu về vấn de việc làm của sinh viên

Loading Preview

Sorry, preview is currently unavailable. You can download the paper by clicking the button above.

SINH VIÊN: TRẦN MẠNH NGHĨA 1 1 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC MỤC LỤC MỞ ĐẦU 2 Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ VIỆC LÀM SINH VIÊN KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 4 1.1. Khái quát về việc làm 4 1.1.1. Khái niệm việc làm 4 1.1.2. Phân loại việc làm 4 1.1.3. Một số việc làm của sinh viên công nghệ thông tin 4 1.2. Ý kiến của chuyên gia về việc làm trong lĩnh vực công nghệ thông tin 5 Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM SINH VIÊN KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 6 2.1. Vài nét về khoa công nghệ thông tin 6 2.2. Thực trạng việc làm sinh viên khoa công nghệ thông tin 6 2.3. Nhận xét 10 Chương 3: NGUYÊN NHÂN GÂY KHÓ KHĂN VỀ VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 12 3.1. Nguyên nhân từ chính bản thân 12 3.2. Nguyên nhân từ phía nhà trường 12 3.3. Nguyên nhân từ phía nhà tuyển dụng 13 Chương 4: NHỮNG GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 14 4.1. Về phía bản thân sinh viên 14 4.2. Về phía nhà trường 15 4.3. Về phía xã hội 15 KẾT LUẬN 16 TÀI LIỆU THAM KHẢO 17 SINH VIÊN: TRẦN MẠNH NGHĨA 2 2 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC MỞ ĐẦU Trong hệ thống giáo dục thì giáo dục Đại học có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển của loài người, đặc biệt là giai đoạn hiện nay khi mà khoa học công nghệ tiến bộ vượt bậc, kinh tế tri thức đang hình thành và phát triển. Sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực của trường đại học, việc khai thác và sử dụng các nguồn nhân lực của giáo dục Việt Nam hiện nay là đề tài đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của xã hội. Bởi vì, đào tạo và sử dụng con người không chỉ là vấn đề riêng của ngành Công Nghệ Thông Tin mà là của toàn xã hội của từng doanh nghiệp và của từng sinh viên. Trước đây đã có nhiều cuộc nghiên cứu đã giúp chúng ta nhận rõ về thực trạng việc làm trong xã hội, cách riêng của sinh viên nhu vào năm 1999, điều tra sinh viên đã tốt nghiệp tại 51 trường Đại Học và Cao Đẳng(trong đó có 3 Đại Học Quốc Gia và 3 Đại Học vùng). Số sinh viên tốt nghiệp là 20.540 sinh viên. Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ chung sinh viên có việc làm là 72,47% và chưa có việc làm là 27.53%. [1] Và năm 2008, theo thống kê riêng của chương trình việc làm của báo Người Lao Động, bình quân cứ 100 lao động Đại Học đến đăng ký tìm việc làm thì có khoảng 80% trong số này là không tìm được việc làm trong ba tháng đầu sau khi ra trường, 50% thất nghiệp trong 6 tháng đầu và 30 % sau 1 năm [2]. Theo kết quả mới đây của trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM chỉ có 40% sinh viên của trường tìm được việc trong 6 tháng sau khi tốt nghiệp và sau một năm tăng lên khoảng 70%. Còn theo thống kê mới đây của Viện chiến lược CNTT cho thấy hiện nay, 72% sinh viên ngành Công nghệ thông tin(CNTT) không có kinh nghiệm thực hành, 42% thiếu kỹ năng làm việc nhóm, 100% không biết lĩnh vực hành nghề. [3] Trước vấn đề bức xúc của xã hội về việc làm thì sinh viên khoa CNTT cũng không tránh khỏi những lo toan suy nghĩ về việc làm trong tương lai của mình sau khi ra trường. Nhận thấy được vấn đề bức thiết này em đã quyết định làm đề tài nghiên cứu về thực trạng việc làm của sinh viên khoa Công nghệ thông tin khi ra trường. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Mục đích: - Nghiên cứu thực trạng việc làm của sinh viên khoa công nghệ thông tin đã ra trường những năm 2007, 2008 ọ. - Phân tích những tác động ảnh hưởng đến việc tìm kiếm việc làm. - Đưa ra những đánh giá và đề xuất ý kiến. SINH VIÊN: TRẦN MẠNH NGHĨA 3 3 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC - Thu thập dữ liệu để lấy được thực trạng việc làm của sinh viên Công nghệ thông tin khi ra trường. Nhiệm vụ: - Có cái nhìn tổng thể chính xác hơn về thực trạng việc làm của sinh viên khoa công nghệ thông tin. - Định hướng chuẩn bị nghề sau này. - Giúp xã hội, nhà trường biết rõ được thực trạng của sinh viên khoa nói chung và sinh viên trường nói chung. - Nhận biết được khó khăn khi tìm việc làm. Giới hạn vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu về việc làm của sinh viên, trước đây đã có nhiều nhà chuyên môn nghiên cứu, có nhiều nguyên nhân được đưa ra và cũng có nhiều giải pháp để giải quyết những vấn đề bức xúc được tìm hiều nhưng nó mang tính chất tổng quát chưa hướng đến một nghành cụ thể. Vì vậy đề tài nghiên cứu này tập trung hướng tới sinh viên đã ra trường thuộc chuyên nghành công nghệ thông tin Học viện công nghệ bưu chính viễn thông. Đề tài nghiên cứu của em mong muốn được đóng góp bổ xung những thiếu xót, hạn chế của đề tài. SINH VIÊN: TRẦN MẠNH NGHĨA 4 4 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ VIỆC LÀM SINH VIÊN KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1.1. Khái quát về việc làm 1.1.1. Khái niệm việc làm Việc làm hay công việc là một hoạt động được thường xuyên hoạt động để đổi lấy công việc thanh toán, thường là nghề nghiệp của một người. Một người thường bắt đầu một công việc bằng cách trở thành một nhân viên, người tình nguyện hoặc bắt đầu việc buôn bán. Thời hạn công việc có thể nằm trong khoảng một giờ (trong trường hợp các công việc lặt vặt). Nếu một người được đào tạo cho một loại công việc nhất định, họ có thể có một nghề nghiệp. Tập hợp hàng loạt các công việc trong cuộc đời của một người là sự nghiệp của họ. Một công việc phải có điểm đầu và điểm kết thúc, phải có mục tiêu kết quả, có nguồn lực.[4] 1.1.2. Phân loại việc làm Toàn thời gian: là một định nghĩa chỉ một công việc làm 8 tiếng mỗi ngày hoặc theo giờ hành chính 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày một tuần. Thời gian: là định nghĩa mô tả việc làm không đủ thời gian giờ hành chính quy định của nhà nước 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày một tuần. Thời gian có thể dao động từ 0.5 đến 5 tiếng mỗi ngày và không liên tục. Làm thêm: là một định nghĩa mô tả một công việc không chính thức, không thường xuyên bên cạnh một công việc chính thức và ổn định.[4] 1.1.3. Một số việc làm của sinh viên công nghệ thông tin - Nhân viên phân tích dữ liệu - Quản trị hệ thống - Lập trình viên - Kỹ sư phần mềm - Nhân viên phân tích hệ thống. - Chuyên viên hỗ trợ, người sử dụng cuối cùng. - Thiết kế web/dịch vụ Internet SINH VIÊN: TRẦN MẠNH NGHĨA 5 5 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1.2. Ý kiến của chuyên gia về việc làm trong lĩnh vực công nghệ thông tin Theo ông Bùi Tuấn Lượng – giám đốc điều hành công ty Luvina (chuyên về gia công phần mềm) cho rằng “Cách nhìn bi quan về công nghệ thông tin có chẳng chỉ là quan điểm của một bộ phận nhỏ trong xã hội. Thực tế tại luvina lập trình viên khi mới ra trường lương khởi điểm khoảng 5,5 – 6 triệu đồng/tháng nhưng sau 3, 5 năm có thể tăng lên 20 triệu đồng trên tháng nếu cá nhân đó có phương pháp làm việc hiệu quả thành thạo ngoại ngữ có kỹ năng mềm”. [3] Còn theo Payscale.com webside chuyên so sánh về lương, bình quân lương kỹ sư phần mềm (với 4 năm kinh nghiệm) ở Việt Nam gần bằng 4/5 so với Trung Quốc và cao gấp đôi Ấn Độ. Cùng với quan điểm trên ông Phan Dương Đạt, phó Tổng giám đốc FPT Software chia sẻ thực tế tuyển dụng của công ty này cho thấy điểm yếu của sinh viên hiện nay là chỉ có kiến thức nền tảng, không được cập nhật công nghệ, thiếu kỹ năng mềm như giao tiếp, làm việc nhóm. Điều này khiến các sinh viên mới ra trường khó bắt nhịp với sự phát triển của doanh nghiệp cũng như sự phát triển về sau. Bên cạnh đó ông nhấn mạnh một bộ phận giới trẻ có xu hướng làm giàu nhanh, trong khi ngành phần mềm lao động trí óc căng thẳng nên họ coi đây là nghành lao động vất vả lương thấp. Vì vậy, sinh viên ngành công nghệ thông tin ra trường cần có chuyên môn tốt, giỏi ngoại ngữ (vì đặc thù ngành công nghệ thông tin tiếp xúc với nhiều kiến thức băng Tiếng Anh) thì sẽ không lo thất nghiệp. Tất cả phụ thuộc vào chính bản thân từng người bởi công nghệ thông tin không phải là ngành vất vả, áp lực, lương thấp như nhiều người vẫn nghĩ. Có chăng các cơ sở đào tạo nên đẩy mạnh hơn nữa hoạt động hướng nghiệp để sinh viên dễ hiểu hơn về việc làm trong tương lai của mình. Các sinh viên công nghệ thông tin cũng nên tìm hiểu kỹ công việc mình sẽ theo đuổi, lựa chọn công ty có tầm nhìn phù hợp với định hướng bản thân để phát triển tương lai. Tương lai màu gì tươi sáng hay ảm đạm phụ thuộc chính sự cố gắng của mỗi người. [3] SINH VIÊN: TRẦN MẠNH NGHĨA 6 6 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM SINH VIÊN KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 2.1. Vài nét về khoa công nghệ thông tin Khoa công nghệ thông tin học viện công nghệ bưu chính viễn thông thuộc Học viện công nghệ bưu chính viễn thông được thành lập năm 1997 với mục tiêu đào tạo của khoa là “nhằm tạo ra những giáo viên những chuyên gia tốt, ngoài những kiến thức chuyên ngành công nghệ thông tin còn có những hiểu biết về nhiều lĩnh vực khác nhau và trở thành những giáo viên đúng nghĩa, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước trong giai đoạn trước mắt cũng như giai đoạn lâu dài. ” (Nguồn đề án thành lập Khoa Công Nghệ Thông Tin,năm 1997). Qua việc phỏng vấn Thạc sỹ Nguyễn Ngọc Điệp – giảng viên khoa công nghệ thông tin thì hiện nay khoa có 20 giảng viên bao gồm 2 PGS.TS, 1 TSKH, 3 Tiến sỹ, 14 Thạc sỹ với số sinh viên khoa ước tính 450 sinh viên. Theo Thạc sỹ thì lực lượng giảng viên còn thiếu chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo ngày càng tăng của học viện cũng như nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội. 2.2. Thực trạng việc làm sinh viên khoa công nghệ thông tin Tôi đã thực hiện điều tra phỏng vấn một nhóm bao gồm 20 sinh viên khoa công nghệ thông tin đã ra trường thuộc khóa D08, D09 trong đó với khóa D09 thì đang làm đồ án tốt nghiệp. Trong đo có 8 sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành Hệ thống thông tin, 12 sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành Công nghệ phầm mềm. và thu được kết quả như sau: Đối với câu hỏi: “ Sau khi ra trường anh(chị) có nhận được sự giúp đỡ, giới thiệu việc làm không? “ SINH VIÊN: TRẦN MẠNH NGHĨA 7 7 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Bảng 1.1: Kết quả thu được câu hỏi 1 Kết quả bảng 1.1 cho thấy: phần lớn sinh viên khi ra trường phải dựa vào năng lực bản thân (42.1%), qua sự giúp đỡ của bạn bè (31.6%) điều này nói lên mối quan hệ tốt với bạn bè và có nhiều bạn cũng giúp rất nhiều cho việc tìm kiếm việc làm của bản thân. Còn về sự giúp đỡ của gia đình khá thấp (26.3%) cũng bởi vì đa phần số sinh viên đều xuất thân từ gia đình nông thôn, đời sống còn gặp nhiều khó khăn nên việc dùng tiền để xin việc làm là rất khó khăn. SINH VIÊN: TRẦN MẠNH NGHĨA 8 8 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Tiếp theo với câu hỏi: “Sau khi ra trường thì anh/chị có tìm ngay được việc làm hay phải mất một thời gian?” Bảng 1.2: Kết quả thu được Qua bảng 1.2 chúng ta thấy rằng: Đa số sinh viên ra trường đều không có việc làm ngay mà vẫn đang phải tìm kiếm công việc phù hợp với ngành học. Do đó sinh viên phải làm nhiều công việc tạm thời (42.2%) chiếm tỉ lệ cao. Số sinh viên còn phải mất một thời gian chờ đợi việc làm (36.8%) chiếm tỉ lệ tương đối cao. Có rất ít sinh viên ra trường tìm được ngay công việc đúng chuyên môn ngành nghề được đào tạo (21%). Với câu hỏi: “Anh chị có đánh giá gì về công việc hiện tại của mình? Anh/chị có ý định gắn bó lâu dài với công việc đó hay không? ” Và kết quả thu được là: - Hài lòng 52,6 % - Không hài lòng 21.1% - Bình thường 26.3 % Qua số liệu điều tra trên cho thấy đa số sinh viên hài lòng với công việc tạm thời hiện tại của mình (mặc dù đó là công việc trài ngành) với tỉ lệ cao 52.6% và có ý định gắn bó với công việc hiện tại (bởi những công việc đó có mức lương cao, không tốn thời gian tìm việc và công việc đó phù hợp với khả năng, sở thích SINH VIÊN: TRẦN MẠNH NGHĨA 9 9 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC của họ). Với trình độ Đại học một số sinh viên không hài lòng với công việc hiện tại (21,1%) với mức lương không tương xứng, công việc không phù hợp với chuyên môn. Số còn lại (26.3 %) cảm thấy bình thường. Với câu hỏi: “Sau khi ra trường với những kiến thức được học anh/chị có vận dụng chúng vào công việc hiện tại không? ” Bảng 1.3: Bảng kết quả câu hỏi 3 Theo biểu đồ 1.3 chúng ta có thể thấy được hiện tại đối với sinh viên ra trường làm việc đúng chuyên môn, vận dụng đúng kiến thức đã học vào công việc chiếm tỉ lệ thấp: 10.5%. Trong khi đó tỉ lệ sinh viên ra trường làm việc không đúng chuyên môn, không vận dụng kiến thức đã học chiếm tỉ lệ cao 47.4 %. Tỉ lệ này là tương đối cao so với tỉ lệ những sinh viên ra trường làm đúng chuyên môn, vận dụng đúng kiến thức đã học. Số còn lại cảm thấy bình thường chiếm tới 42.1%. SINH VIÊN: TRẦN MẠNH NGHĨA 10 10 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Theo điều tra phỏng vấn mức lương hiện tại của 20 sinh viên đã ra trường được thống kê như sau: Bảng 1.4: Kết quả câu hỏi 4 Qua bảng 1.4 cho thấy mức lương ảnh hưởng tới tâm lý tìm việc của sinh viên. Với trình độ Đại học của mình làm cho sinh viên có xu hướng chọn ngành có mức lương cao phù hợp với khả năng, mức lương và trình độ. Với câu hỏi: “Phần đông sinh viên ra trường làm trái ngành nghề. Anh/chị có ý kiến gì? ” Đồng ý 63.2 % Không đồng ý 36.8 % Bảng 1.5: Kết quả câu hỏi 5 Qua khảo sát cho thấy phần đông sinh viên đồng ý với nhận định trên. Điều này cho thấy, thực trạng sinh viên ra trường làm trài ngành nghề đang là vấn đề bức xúc cần được sự quan tâm giải quyết từ phía khoa, nhà trường, xã hội và chính bản thân mỗi sinh viên. 2.3. Nhận xét Qua khảo sát thực tế cho thấy phần lớn sinh viên ra trường khó tìm kiếm được việc làm ngay, hầu hết nếu tìm được việc làm thì làm trái ngành nghề đào tạo, lương tương đối thấp chưa đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt chung đặc biệt đối với những người làm việc tại thành phố. Sinh viên ra trường chủ yếu phải tự SINH VIÊN: TRẦN MẠNH NGHĨA 11 11 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC tìm việc làm, sự giúp đỡ của nhà trường còn hạn chế. Những kiến thức được học chưa được ứng dụng nhiều vào công việc nhưng nó là nền tảng cho sinh viên thực hiện công việc một cách dễ dàng hơn. SINH VIÊN: TRẦN MẠNH NGHĨA 12 12 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Chương 3: NGUYÊN NHÂN GÂY KHÓ KHĂN VỀ VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Đất nước ta đang phát triển theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa do đó khoa học kỹ thuật đang được đầu tư phát triển mạnh đặc biệt là về lĩnh vực công nghệ thông tin. Trong đó để làm được thì cần phải có đội ngũ tri thức, chủ yếu là những tri thức đang được đào tạo trong môi trường Đại học. Hiện tại thì đa số sinh viên ra trường là làm trái ngành nghề không chỉ riêng sinh viên khoa công nghệ thông tin nói riêng mà là sinh viên của Học viện công nghệ Bưu chính viễn thông nói chung. Chính vấn đề này cần phải đặt ra một loạt các câu hỏi cần sự giải đáp. Cần phải tìm ra nguyên nhân để thấy rõ hơn thực trạng sinh viên ra trường không có việc làm ổn định hoặc làm trái ngành nghề chuyên môn. 3.1. Nguyên nhân từ chính bản thân Khi bắt đầu vào đại học chọn ngành học có khi nào sinh viên tự đặt cho mình câu hỏi mình đang học ngành gì? Học xong ra trường sẽ làm việc gì? Có lẽ bởi do họ thi và vào học do trượt nguyện vọng 1, thậm chí cũng do cha mẹ người thân định hướng sẵn sàng cho con học ngành này trong khi đó chính mình lại không thích “Học chỉ để đối phó, học chỉ để có học”. Trong quá trình học: - Họ chưa chú tâm coi việc học tập là quan trọng, nó sẽ quyết định tương lai của chính bản thân. - Khi chọn chuyên ngành học cho mình, họ thấy không phù hợp khi chuyển ngành thì gặp khó khăn. - Tư tưởng của sinh viên học là để lấy bằng cấp, chưa tích cực quan tâm về vấn đề tiếp thu kiến thức sau 4 năm học thu được những gì. - Ngoài ra còn nhiều nguyên nhân khác. 3.2. Nguyên nhân từ phía nhà trường Môi trường Đại học luôn tại cho người học tính chủ động sáng tạo, luôn tìm tòi phát hiện cái mới, tạo ra công trình cho xã hội. Chất lượng giáo dục đào tạo của trường chưa thích ứng nhu cầu học tập của sinh viên. Có quá nhiều câu hỏi đươc đặt ra mà câu trả lời thì quá mơ hồ. Phải chăng đó là những bức xúc cần được quan tâm giải quyết. Đối với sinh viên khoa công nghệ thông tin ra trường chưa tìm kiếm được công việc ổn định, làm trái ngành nghề chuyên môn SINH VIÊN: TRẦN MẠNH NGHĨA 13 13 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC thậm chí là chưa có việc làm. Theo điều tra phỏng vấn, chúng tôi đã thu thập nhiều ý kiến khác nhau nhưng tựu chung lại là: - Chương trình đào tạo của nhà trường đặc biệt là của khoa công nghệ thông tin chưa sâu, phân bố thời gian và chương trình học tập chưa hợp lý khiến các sinh viên không tích cực học. - Khoa còn thiếu đội ngũ giáo viên chuyên ngành có kinh nghiệm lâu năm. - Nội dung học chưa đi sâu vào thực tế, cơ bản nặng nề về lý thuyết yếu về thực hành. - Vẫn quan tâm đến số lượng hơn chất lượng: chương trình học dàn trải, chưa quan tâm tới việc tiếp thu của sinh viên. - Sự liên kết của nhà trường, khoa với xã hội (Nhà tuyển dụng) còn hạn chế. 3.3. Nguyên nhân từ phía nhà tuyển dụng Đòi hỏi bằng cấp, đáp ứng mọi yêu cầu từ phía nhà tuyển dụng đưa ra, và trên thực tế sinh viên khoa Công nghệ thông tin ra trường chưa có việc là phần lớn làm không đúng chuyên môn. Nhà tuyển dụng đòi hỏi trình độ học vấn, kinh nghiệm nghề nghiệp, bên cạnh đó ngoại ngữ luôn luôn đi kèm. Do sinh viên trong khoa chưa đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng, một phần thất bại trong việc tìm kiếm việc làm không chỉ là thiếu kinh nghiệm mà là sự rụt rè, nhút nhát của họ. SINH VIÊN: TRẦN MẠNH NGHĨA 14 14 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Chương 4: NHỮNG GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Để sinh viên khoa công nghệ thông tin ra trường có việc làm và làm đúng chuyên môn, ngành nghề được đào tạo cần có giải pháp từ ba phía đó là: Bản thân sinh viên, nhà trường và xã hội. 4.1. Về phía bản thân sinh viên Sinh viên cần năng động, sáng tạo tham gia nhiều hoạt động nhóm, hội, các buổi sinh hoạt sẽ giúp cho sinh viên năng động hơn trong giao tiếp và tìm kiếm việc làm. Sinh viên phải tự thân vận động, nghiên cứu thêm nhiều tài liệu liên quan tới chuyên ngành để hỗ trợ thêm kiến thức cho mình. Quan trọng là sinh viên cần nhận ra ưu điểm, nhược điểm, khả năng của mình về lĩnh vực cụ thể để phát huy thế mạnh vì khi đi tìm kiếm việc làm điều mà nhà tuyển dụng cần là cụ thể về một mảng nào đó nhất định chứ không cần cái chung chung thiên về lý thuyết. Sinh viên cần phải biết tiếp thị bản thân và cần xác định năng lực của mình, biết đâu là điểm yếu, cách khắc phục những điểm yếu, phát huy những thế mạnh để đủ bản lĩnh tự tin hơn trong công việc. Để thành công bất kỳ vị trí nào bạn cần kỹ năng, kiên thức, nhiệt huyết, lòng đam mê và làm việc có mục đích. Ngoài những kỹ năng chuyên môn sinh viên ra trường cần có kỹ năng quản lý, có niềm tin với công việc mình làm, bình tĩnh và sử dụng giao tiếp bằng mắt là yếu tố làm nên thành công. Việc học thêm ngoại ngữ rất quan trọng trong công việc, tạo điều kiện tốt cho sinh viên xin việc làm, làm việc. Sinh viên không nên có tư tưởng học đối phó học cho có bằng mà phải biết học để áp dụng kiến thức được học vào thực tế, tìm hiểu, phát triển thêm phần lý thuyết, thực hành. Bản thân sinh viên phải tạo cho mình sự hưng phấn, thích thú cần phải học thêm một số chuyên ngành khác như điện tử, viễn thông… để hỗ trợ công việc mình làm và tìm một công việc ổn định cho tương lai. Sinh viên cần phải đặt cho mình mục tiêu và nhiệm vụ. Phải trả lời những câu hỏi: Học để làm gì? Học như thế nào? Bên cạnh đó cần tạo mỗi quan hệ với SINH VIÊN: TRẦN MẠNH NGHĨA 15 15 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC bạn bè với doanh nghiệp, nhà tuyển dụng để học hỏi kinh nghiệm từ họ và có hướng đi cho tương lai. 4.2. Về phía nhà trường Để tạo điều kiện cho sinh viên sau khi ra trường tìm kiếm việc làm một cách dễ dàng hơn thì việc đào tạo sinh viên cần đi sâu vào thực hành, chỉ có như thế sau khi ra trường sinh viên sẽ bắt nhịp được ngay với môi trường công ty, nắm bắt vận dụng được ngay công việc. Có chương trình thiết thực môn học chuyên sâu hơn về chuyên ngành đào tạo. Tìm hiểu thực tế việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường. Tạo cho sinh viên có nhiều cơ hội để giao lưu, làm việc với các công ty doanh nghiệp. Nhà trường cần tổ chức cho sinh viên những buổi giao lưu gặp gỡ cho sinh viên các khoa các khóa để học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau để rèn luyện thêm khả năng giao tiếp. 4.3. Về phía xã hội Nhà tuyển dụng là cầu nối giữa sinh viên với cơ sở sử dụng kết hợp với các công ty trong quá trình tuyển dụng là nơi cung cấp thông tin tuyển đào tạo và bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng giúp sinh viên trong quá trình tìm việc làm. Tư vấn hỗ trợ giới thiệu việc làm cho sinh viên đang học và cho sinh viên đã tốt nghiệp có nhu cầu. SINH VIÊN: TRẦN MẠNH NGHĨA 16 16 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KẾT LUẬN Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu để hoàn thành tiểu luận, một lần nữa đã khẳng định rằng: thực trạng việc làm của sinh viên khoa công nghệ thông tin hiện nay là rất là nóng bỏng. Trong bài viết em đã nêu ra những lý luận chung về vấn đề việc làm để thấy rằng việc làm và chính sách việc làm có vị trí vai trò quan trọng như thế nào trong đời sống xã hội. Bài viết có thể giúp cho sinh viên khóa D10 chúng em nhận thức được rõ ràng ngành học, ổn định tâm lý, định hướng nghề nghiệp trong tương lai. Đồng thời em cũng đưa ra những số liệu khảo sát về thực trạng việc làm của sinh viên công nghệ thông tin Học viện công nghệ bưu chính viễn thông. Và cuối cùng là đưa ra một số giải pháp nhằm giải quyết thực trạng việc làm của sinh viên công nghệ thông tin. Giúp xã hội nhìn rõ thực trạng việc làm của sinh viên khoa công nghệ thông tin và của toàn xã hội nói chung. Từ đó có những giait pháp nhằm giải quyết vấn đề. SINH VIÊN: TRẦN MẠNH NGHĨA 17 17 TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Trần Anh Đức (2001), Lao động việc làm và nguồn nhân lực ở Việt Nam 15 năm đổi mới, Nxb Thế Giới, Hà Nội. [2] Thực trạng việc làm ở Việt Nam, báo Người Lao Động [3] Vì sao sinh viên CNTT ra trường thất nghiệp nhiều http://tuyensinh.nld.com.vn/news/Theo-dong-thoi-su/Vi-sao-sinh-vien-CNTT-ra-truong-that-nghiep-nhieu-548/ [4] Khái niệm việc làm http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87c_l%C3%A0m