Chế độ lưu thông tiền tệ nào mà giá trị nội tại của đồng tiền phù hợp với giá trị danh nghĩa

Tiền tệ là một trong những cụm từ được nhiều người quan tâm bởi nó có chức năng vô cùng quan trọng cuộc sống của mỗi con người đối với trong nước và quốc tế. Theo đó, khách hàng thắc mắc tiền tệ được hiểu như thế nào?, chức năng của tiền tệ ra sao?

Mời quý vị tham khảo nội dung sau đây của Luật Hoàng Phi để nắm rõ những câu trả lời về tiền tệ mà khách hàng đưa ra.

Tiền tệ là gì?

Tiền tệ là một thước đo giá trị, theo đó tiền tệ được dùng để đo lường các giá trị về các loại hàng hóa, do mỗi loại hàng hóa hay vật phẩm đều có giá trị khác nhau nhưng đều được đo lường bằng giá trị tiền tệ.

Như vậy, tiền tệ là một trong những yếu tố quan trọng trong sự ảnh hưởng quyền lợi của con người.

Chức năng của tiền tệ

Theo C.Mác thì tiền tệ có những chức năng như sau:

– Chức năng là thước đo giá trị:

+ Do tiền tệ là một loại để biểu hiện, đồng thời đo lường các loại hàng hóa có gía trị như thế nào? Cho nên khi dùng tiền tệ để đo được giá trị của các loại hàng hóa thì bản thân là tiền tệ cần phải có giá trị trước. Theo đó, tiền tệ cũng có chức năng để nâng thước đo giá trị phải là tiền vàng.

+ Khi đo lường được giá trị hàng hóa thì không nhất thiết tiền tệ phải là tiền mặt, mà trong đó chỉ cần thực hiện việc so sánh với một lượng vàng trong ý tưởng nào đó. Bởi vì, giá trị của hàng hóa và giá trị của vàng trong thực tế đã có một mức tỷ lệ là nhất định. Trong đó, từ cơ sở tỷ lệ chính là thời gian lao động mà xã hội cần thiết để hao phí trong sản xuất ra loại hàng hóa đó.

+ Giá trị của hàng hóa được thể hiện bằng tiền thì gọi là giá cả của hàng hóa. Như vậy, chúng ta hiểu rằng giá cả là một hình thức mà giá trị hàng hóa thể hiện bằng tiền.

Mà ta thấy: giá cả phải chịu ảnh hưởng từ các yếu tố như sau gồm:

+ Giá trị của tiền

+ Giá trị của hàng hóa

+ Mối quan hệ giữa cung và cầu về hàng hóa

Tuy nhiên, vì giá trị của hàng hóa là một nội dung thuộc giá cả cho nên đối với 3 yếu tố trên thì giá trị là một nhân tố để quyết định giá cả.

Để tiền làm được với chức năng là thước đo giá trị thì tiền tệ cần phải được quy định là  một đơn vị tiền tệ nhất định để làm tiêu chuẩn đo lường về giá hàng hóa. Cụ thể, đơn vị này là một trọng lượng nhất định từ kim loại làm tiền tệ.

Trong thực tế, đơn vị tiền tệ sẽ tùy thuộc vào mỗi nước, thì loại tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Đơn vị tiền tệ và thành phần chia nhỏ của tiền tệ chính là tiêu chuẩn của giá cả.

Ví dụ: Ở Hoa Kỳ thì tiêu chuẩn giá của 1 đồng đô la là hàm lượng vàng: 0,83333 gr

Ở nước Pháp thì 1 đồng Franc hàm lượng vàng: 0,170000 gr

Khi tiền tệ được dùng là làm tiêu chuẩn giá cả sẽ hoàn toàn không giống với chức năng của nó khi làm thước đo giá trị, cụ thể là:

+ Khi tiền tệ là thước đo giá trị thì dùng để đo lường về giá trị của hàng hóa khác

+ Khi tiền tệ là tiêu chuẩn của giá cả thì tiền tệ dùng để đo lường bản thân của kim loại để làm tiền tệ

– Là phương tiện lưu thông

+ Tiền là một phương tiện để môi giới trong khi trao đổi hàng hóa, khi tiền tệ có chức năng này thì tiền tệ phải là tiền mặt. Theo đó, hàng hóa để trao đổi hàng hóa mà lấy tiền làm môi giới thì gọi là lưu thông hàng hóa.

+ Công thức về lưu thông hàng hóa chính là : H – T – H, cụ thể khi tiền để làm môi giới trong việc trao đổi hàng hóa sẽ làm cho việc mua – bán được tách rời nhau xét theo không gian và thời gian. Như vậy, khi mà hoạt động mua và bán có thể là tác nhân của khủng hoảng kinh tế

+ Ở trong một thời kỳ nhất định, việc lưu thông hàng hóa cần phải có lượng tiền cần thiết đảm bảo cho sự lưu thông, quy luật lưu thông tiền tệ chính là căn cứ để xác định số lượng tiền đó.

Theo C.Mác thì đối với cùng một không gian, cùng một thời gian thì khối lượng tiền tệ để đảm bảo cho sự lưu thông được tính theo công thức:

T= [Gh * H]/N= G/N

Trong đó: T là số lượng tiền tệ cần để lưu thông

H là số lượng về hàng hóa được lưu thông ở trên thị trường

Gh là giá trung bình của một loại hàng hóa nhất định

G là hàng hóa đó có tổng giá cả là bao nhiêu?

N là các đồng tiền cùng loại có số vòng lưu thông?

+ Quá trình để hình thành tiền giấy là: ban đầu tiền tệ tồn thại ở hình thức bạc nén, vàng thoi, sau đó được thay thế bằng tiền đúc. Dần dân, qua quá trình lưu thông thì tiền đúc bị mất một phần giá trị do hao mòn. Tuy vậy, tiền đúc vẫn được xã hội chấp nhận nó đủ giá trị

Tóm lại, tiền có giá trị thực tách rời giá trị với danh nghĩa của chính nó, bởi vì tiền làm phương tiện để lưu thông thì chỉ trong 1 thời gian ngắn nhất định. Con người lấy hàng đổi tiền, sau đó lấy số tiền đó để mua loại hàng khác mà họ cần, dù vậy tiền không phải nhất thiết cần có đủ giá trị

Dựa vào thực tế trên, nhà nước đã tìm các cách để làm giảm bớt về lượng kim loại đơn vị tiền tệ trong khi đúc tiền. Ta thấy rằng tiền đúc có giá trị thực bị thấp hơn so với giá trị theo danh nghĩa của chính nó. Từ đó, tiền giấy được hình thành – ra đời, thực tế thì tiền giấy không có giá trị, nó chỉ là ký hiệu của giá trị theo đúng quy luật lưu thông tiền giấy mà nhà nước đặt ra.

– Chức năng tiền tệ là phương tiện cất giữ:

+ Khi tiền được rút khỏi lưu thông và được cất giữ, theo đó tiền cần phải có đủ về chức năng. Do tiền là đại biểu của cải xã hội với hình thái giá trị, như vậy cất giữ tiền cũng là cất giữ của cải.

+ Việc cất giữ sẽ làm cho tự phát sự thích ứng trong lưu thông với nhu cầu tiền cần thiết. khi sản xuất tăng thì hàng hóa nhiều thì tiền cất trữ được bỏ ra để đảm bảo lưu thông và ngược lại.

– Là phương tiện trong thanh toán

+ Thực tế, tiền được dùng trong chi trả mua hàng, trả nợ, nộp thuế,… Khi việc sản xuất, trao đổi hàng hóa được phát triển ở mức độ nào đó nhất định thì sẽ hình thành việc mua bán chịu. Theo đó, tiền tệ cũng làm chức năng để định giá cả hàng hóa, nhưng khi đến kỳ hạn của việc mua bán chịu thanh toán thì khi đó mới làm phương tiện để thanh toán trong lưu thông.

– Tiền tệ thế giới

Khi việc trao đổi hàng hóa được đưa ra khỏi biên giới quốc gia thì tiền tệ làm chức năng là tiền tệ thế giới. Theo đó, tiền cần đảm bảo đủ giá trị và là hình thái từ ban đầu là vàng, vàng chính là phương tiện để mua bán hàng hóa và là phương tiện để thanh toán quốc tế, là biểu hiện của cải của xã hội nói chung.

Qua các chức năng của tiền tệ đã nêu trên thì nền kinh tế hàng hóa có mối quan hệ mật thiết với chức năng của tiền tệ. Sự phát triển trong sản xuất và lưu thông hàng hóa chính là phản ánh sự phát triển của chức năng tiền tệ.

Trên đây, là toàn bộ nội dung liên quan đến chức năng của tiền tệ, câu trả lời cho những thắc mắc liên quan tiền tệ được hiểu như thế nào?

Sự ra đời và tồn tại của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và tồn tại của sản xuất và trao đổi hàng hóa. Và trong quá trình này nó xuất hiện vật ngang giá chung. Như vậy, tiền tệ là gì? Các chức năng của tiền tệ cũng như quy luật lưu thông tiền tệ là gì? Chúng tôi sẽ giải đáp những thắc mắc của quý độc giả về Tiền tệ là gì? thông qua bài viết dưới đây:

Tiền tệ là một phạm trù lịch sử, nó là sản phẩm tự phát của nền kinh tế hàng hóa, sản phẩm của sự phát triển các hình thái giá trị, đồng thời cũng là sản phẩm của sự phát triển mâu thuẫn giữa lao động và phân công lao động xã hội trong sản xuất hàng hóa.

Sự ra đời và phát triển của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa.

Theo Mac, tiền tệ là một thứ hàng hoá đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hoá, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác. Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa.

Theo các nhà kinh tế hiện đại: Tiền được định nghĩa là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ.

Các chức năng của tiền tệ

Theo C.Mác, chức năng của tiền tệ cụ thể như sau:

– Thước đo giá trị

Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hóa. Muốn đo lường giá trị của các hàng hóa, bản thân tiền tệ cũng phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hóa không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó trong ý tưởng. Sở dĩ có thế làm được như vậy vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hóa trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó. Giá trị hàng hóa được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hóa.Hay nói cách khác, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa.

Giá cả hàng hóa chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau đây:

+ Giá trị hàng hóa.

+ Giá trị của tiền.

+ Quan hệ cung – cầu về hàng hóa.

Nhưng vì giá trị hàng hóa là nội dung của giá cả nên trong ba nhân tố nêu trên thì giá trị vẫn là nhân tố quyết định giá cả.

Để tiền làm được chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được quy định một đơn vị tiền tệ nhất định làm tiêu chuẩn đo lường giá cả của hàng hóa. Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ. Ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau

– Phương tiện lưu thông

Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hóa.Để làm chức năng lưu thông hàng hóa đòi hỏi phải có tiền mặt.Trao đổi hàng hóa lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hóa.

Công thức lưu thông hàng hóa là: H – T – H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hóa đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế.

Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thỏi, bạc nén.Dần dần nó được thay thế bằng tiền đúc.Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dần và mất một phần giá trị của nó.Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủ giá trị.

Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó.Sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương lện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát.Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần.Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giám bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ.

Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó.Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Nhà nước có thể in tiền giấy ném vào lưu thông. Nhưng vì bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của nén vàng, nên nhà nước không thể tùy ý in bao nhiêu tiền giấy cũng được, mà phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy.

Quy luật đó là: “việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn trong số lượng vàng [hay bạc] do tiền giấy đó tượng trưng, lẽ ra phải lưu thông thực sự”. Khi khối lượng tiền giấy do nhà nước phát hành và lưu thông vượt quá khối lượng tiền cần cho lưu thông, thì giá trị của tiền tệ sẽ bị giảm xuống, tình trạng lạm phát sẽ xuất hiện.

– Phương tiện cất trữ

Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền, vàng, bạc.Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông.Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hóa nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông.Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hóa lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

– Phương tiện thanh toán

Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng… Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình thức giao dịch này, trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hóa. Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán.Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt.Mặt khác, trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên.

– Tiền tệ thế giới

Khi trao đổi hàng hóa vượt khỏi biên giới quốc gia thì nên làm chức năng tiền tệ thế giới.Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện mua bán hàng hóa, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xã hội.

Năm chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hóa quan hệ mật thiết với nhau.Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa.

Quy luật lưu thông tiền tệ

Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật quy định số lượng tiền cần cho lưu thông hàng hóa ở mỗi thời kỳ nhất định.

[Mác cho rằng, số lượng tiền tệ cần cho lưu thông do ba nhân tố quy định: số lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường, giá cả trung bình của hàng hóa và tốc độ lưu thông cua những đơn vị tiền tệ cùng loại. Sự tác động của ba nhân tố này đối với khối lượng tiền tệ cần cho lưu thông diễn ra theo quy luật phổ biến là: Tổng số giá cả của hàng hóa chia cho ô vòng lưu thông của các đồng tiền cùng loại trong một thời gian nhất định.

+ Khi tiền mới chỉ thực hiện chức năng là phương tiện lưu thong, thì số lượng tiền cần thiết cho lưu thong được tính theo công thức:

M=P*Q/V

Trong đó:

là phương tiện cần thiết cho lưu thông

là mức giá cả

Q: là khối lượng hàng hóa đem ra lưu thông

V: là số vòng luân chuyển trung bình của một đơn vị tiền tệ

Trên đây là những thông tin tư vấn của chúng tôi về vấn đề Tiền tệ là gì?Hy vọng những thông tin tư vấn của chúng tôi sẽ hỗ trợ quý độc giả trong quá trình nghiên cứu, học tập cũng như giải quyết các vấn đề thực tế.

Video liên quan

Chủ Đề